(Bstyle)-Trong giai đoạn 2000 – 2015, doanh nghiệp VN từng bước hội nhập đã có sự cải thiện đáng kể về năng lực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều nhận định cho thấy sự phát triển năng lực cạnh tranh chưa đáp ứng được kỳ vọng cũng như yêu cầu của tiến trình hội nhập. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiêp Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa thực sự khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

Viết bởi Tracy Lee
22-12-2015

Thực tế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam cải thiện chậm và có xu thế tụt hậu so với các nước Khu vực và các nước phát triển. Theo thông kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI, xét về yếu tố thể chế kinh tế, Việt Nam xếp hạng 92 thế giới, đứng thứ 9 trên 10 quốc gia của khu vực ASEAN, chỉ trên Myanmar. Xét về yếu tố sáng tạo, Việt Nam đứng hạng 87 thế giới còn về mức độ sẵn sàng áp dụng công nghệ mới thì càng thấp, xếp hạng 99.

Trong bảng xếp hạng 50 quốc gia về cạnh tranh xuất khẩu hàng hoá của WTO thì VN có thứ hạng thấp nhất. Trong khi đó các quốc gia dẫn đầu trong khu vực ASEAN lần lượt là Singapore (14), Malaysia (19), Thái Lan (25) và Indonesia (32).

Trong báo cáo năm 2014 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho thấy mức độ cải thiện năng suất lao động Việt Nam đang giảm. Giai đoạn 2002 – 2007 năng suất lao động (NSLĐ) của VN tăng 5,2 %/năm nhưng đến năm 2013 thì chỉ còn 3,3%. Điều này là nguyên nhân khiến chỉ số cạnh tranh quốc gia (GCI – Global Competiveness Index) bị giảm liên tục. Năm 2011 VN được xếp thứ 59, năm 2012 xếp thứ 65; năm 2013 xếp thứ 75.

Theo các chuyên gia kinh tế, sự yếu kém năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam so với các nước do nhiều yếu tố cốt lõi trong sản xuất kinh doanh.

(Ảnh: Minh họa)

Phân tích tình trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta thấy nổi bật những hạn chế mang tính cốt lõi:

Chất lượng và khả năng tổ chức, quản lý yếu kém. Khuynh hướng phổ biến là các Doanh nghiệp hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, công nghệ thông tin.

Công nghệ và thiết bị lạc hậu khiến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp. Các doanh nghiệp có khuynh hướng dồn vốn vào đầu tư mặt bằng, nhà xưởng nhưng lại thiếu quan tâm đầu tư công nghệ, thiết bị. Điều này khiến năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt. So sánh giữa sản phẩm trong nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines,... thì các sản phẩm sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25 lần.

Tài chính yếu kém về quy mô và phương thức quản lý. Năng lực tài chính của doanh nghiệp Việt Nam rất yếu kém là một hiện thực không thể chối cãi. Số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 44,1%. Vốn bình quân của doanh nghiệp Việt Nam vào khoản 24 tỷ, thấp hơn gần 13 lần so với doanh nghiệp FDI. Ngoài ra phương thức huy động vốn quá dựa vào Ngân hàng, cũng như cách thức quản lý tài chính còn quan lieu, hạn chế càng làm doanh nghiệp Việt đã khó càng khó.

Hạn chế đầu tư nghiên cứu thị trường và phát triển thương hiệu. Doanh nghiệp Việt thiếu đầu tư vào nghiên cứu phát triển thị trường, thiếu chiến lược về phát triển sản phẩm và thương hiệu. Sự yếu kém về xây dựng và phát triển thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh. Theo VCCI, chỉ có gần 10% số doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu) là thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài.

Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt

Doanh nghiệp cần xác định những đặc điểm phát triển kinh doanh thời hội nhập. Có thể nhận thấy, trong xu thế sản xuất kinh doanh trong thế kỷ 21 các doanh nghiệp thường phát triển theo các hướng sau:

Thứ nhất, nhiều công ty ở quy mô khác nhau đang đi theo tiến trình công nghệ và toàn cầu hóa để thu hoạch lợi nhuận. Điển hình là Apple, tập đoàn công nghệ hàng đầu của Mỹ có trụ sở tại California nhưng sản phẩm lại được lắp ráp tại Trung Quốc. Các biến thể khác nhau của chiến lược sản xuất này đã thành công không những đối với Apple và các đại công ty toàn cầu khác mà còn đối với các công ty quy mô trung bình hay các “công ty đa quốc vi mô” (micro – multinationals).

Xu hướng kinh doanh thứ hai dựa trên những sáng kiến, sáng tạo, đây là mô hình kinh doanh sẽ lấn át nhóm lao động giá rẻ và nhóm chủ tư bản thông thường. Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế Mỹ, sự phân phối lợi tức dành cho nhóm kinh doanh sáng tạo thường mang dạng thức một biểu đồ của luật lũy thừa (a power law), với thu nhập tăng vọt.

Sự phát triển của công nghệ đang làm biến đổi nguồn cung lao động thông thường lẫn nguồn vốn hóa của doanh nghiệp thành hàng hóa, điều này giúp những người có óc sáng tạo, cải tổ chiến lược kinh doanh nhằm đem lại nhiều giá trị cho doanh nghiệp chứ không phải là công nhân hay người đầu tư.

Vào năm 1990, lương trung bình của tổng giám đốc công ty tại Mỹ lớn gấp 70 lần lương của một công nhân bình thường; nhưng năm 2005, lớn gấp 300 lần. Thù lao của tổng giám đốc trên toàn cầu nói chung đều đi theo cùng một chiều hướng, dù có thay đổi đáng kể theo từng nước. Việc quản lý trực tiếp qua các công nghệ kỹ thuật số khiến một người quản lý giỏi trở nên có giá trị hơn trước đây. Ngày nay, trị giá thị trường của một công ty càng lớn, thì lý do phải cố gắng tìm cho ra các nhà quản lý ưu tú nhất để lãnh đạo công ty càng trở nên bức thiết.

Tiến sĩ Đinh Thế Hiển

Theo ấn phẩm Phong Cách Doanh Nhân

You may also like

Latest