Tại Việt Nam, chứng quyền có đảm bảo (Covered Warrant – CW) sẽ được ra mắt các nhà đầu tư vào ngày 28/6/2019 và chính thức có thể giao dịch trên thị trường. Tuy nhiên, đây là một hình thức đầu tư khá mới. Do đó không ít nhà đầu tư chưa hiểu được chứng quyền là gì? Cách thức giao dịch chứng quyền như thế nào?
Chứng quyền là gì?
Chứng quyền (Warrant) là một công cụ phái sinh cung cấp quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ bắt buộc, để mua hoặc bán một cổ phiếu hay trái phiếu trực tiếp ở một mức giá nhất định trước khi hết hạn.
Là một phần của chứng quyền, chứng quyền có đảm bảo (Covered Warrant) là chứng khoán có tài sản đảm bảo được phát hành bởi các công ty chứng khoán và sau đó có thể giao dịch trên các sàn chứng khoán. Cũng giống như chứng quyền, chứng quyền có đảm bảo (CW) cho người nắm giữ có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ mua hoặc bán một tài sản cơ bản, tại một mức giá nhất định, vào hoặc trước ngày đã ấn định từ trước.
Cũng giống như nhiều công cụ tài chính phái sinh khác, chứng quyền cũng sử dụng đòn bẩy tài chính, đó cũng là lý do mà chứng quyền có đảm bảo (CW) được nhiều nhà đầu tư quan tâm.
Đòn bẩy tài chính luôn đi kèm với rủi ro nhất định, chính vì thế, rất nhiều nhà đầu tư đã đặt câu hỏi: “Cái tên “Chứng quyền có đảm bảo” đến từ đâu?”, “Liệu có thể đảm bảo được bao nhiêu rủi ro khi họ tham gia đầu tư?”.
Chứng quyền đã xuất hiện từ khá lâu ở các nước khác trên thế giới cùng các công cụ tài chính khác như phái sinh hay quyền chọn. Vào những năm cuối thập niên 80 đầu 90, chứng quyền lần đầu được ra mắt. Sau đó, đầu thế kỷ thứ 21, chứng quyền lan rộng và phát triển mạnh mẽ trên các thị trường châu Âu và châu Á.
Ở mỗi quốc gia, chứng quyền có đảm bảo là được gọi với những cái tên khác nhau:
- Đức, Anh, Thụy Sỹ, … : Covered Warrant
- Thái Lan, Hong Kong : Derivative Warrant
- Singapore, Malaysia: Structured Warrant
- Đài Loan: Call (Put) Warrant
- Hàn Quốc: Equity-Linked Warrant
Còn ở Việt Nam, chứng quyền có đảm bảo được biết đến với cái tên “Covered Warrant”. Cùng với các công cụ đầu tư tài chính khác như cổ phiếu, chứng khoán phái sinh, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… chứng quyền có đảm bảo (CW) chính thức được ra mắt các nhà đầu tư vào ngày 28/6/2019 và chính thức có thể giao dịch trên thị trường. Chứng quyền có đảm bảo đã được triển khai và chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước khi tung ra thị trường phục vụ các nhà đầu tư.
Phân loại
Có hai loại chứng quyền cơ bản:
- Chứng quyền mua (call warrant): cho phép người sở hữu có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được mua một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn.
- Chứng quyền bán (put warrant): cho phép người sở hữu có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được bán một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn.
Hiện tại, ở Việt Nam mới chỉ đang được triển khai giao dịch chứng quyền mua (giúp nhà đầu tư kiếm lời khi giá cổ phiếu tăng) chứ chưa có chứng quyền bán (giúp nhà đầu tư kiếm lời khi giá cổ phiếu giảm).
Chứng khoán cơ sở: chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành trên nhiều chứng khoán cơ sở khác nhau như: cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng khoán, ETF.
• Giá chứng quyền (phí chứng quyền): là số tiền mà nhà đầu tư phải trả cho tổ chức phát hành chứng quyền (người bán chứng quyền) để sở hữu chứng quyền. Khi niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán, giá chứng quyền chính là giá giao dịch trên thị trường và thông thường giá chứng quyền khá nhỏ so với giá trị thực của chứng khoán cơ sở.
• Ngày đáo hạn: mỗi chứng quyền có bảo đảm đều có tuổi thọ và kết thúc vào ngày được xác định trước trong tương lai. Đây chính là ngày cuối cùng để nhà đầu tư sở hữu chứng quyền thực hiện quyền.
• Giá thực hiện: là giá của chứng khoán cơ sở được xác định trước dùng để tính
toán khi nhà đầu tư thực hiện quyền.
• Tỷ lệ chuyển đổi: khi chứng quyền có bảo đảm được phát hành, thông thường
sẽ có thông tin về tỷ lệ chuyển đổi. Tỷ lệ chuyển đổi cho biết bao nhiêu chứng quyền cần có để được một chứng khoán cơ sở, tỷ lệ chuyển đổi có thể là 1:1 hoặc 3:1 hoặc tỷ lệ nào đó tùy thuộc vào tổ chức phát hành.
• Quyền của người sở hữu chứng quyền: nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền khi chứng quyền đáo hạn. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện, khoản lỗ tối đa đối với nhà đầu tư chính là khoản phí để sở hữu chứng quyền đó.
• Nghĩa vụ của tổ chức phát hành: tổ chức phát hành có nghĩa vụ chuyển giao hoặc mua chứng khoán cơ sở hoặc thanh toán tiền mặt khi nhà đầu tư sở hữu chứng quyền có yêu cầu.
4. Các đặc điểm nổi bật của chứng quyền có đảm bảo
• Tính đòn bẩy: giá chứng quyền (phí chứng quyền) thường nhỏ hơn nhiều so với giá của cổ phiếu, trong khi đó giá trị nội tại của chứng quyền sẽ thay đổi tương ứng với mức biến động của giá cổ phiếu. Chính vì thế, tỷ lệ thay đổi giá của chứng quyền có đảm bảo sẽ lớn hơn tỷ lệ thay đổi của cổ phiếu và từ đó làm tăng tỷ suất lợi từ việc đầu tư chứng quyền có đảm bảo so với đầu tư cổ phiếu thông thường.
Ví dụ: Với vốn đầu tư là 100 triệu đồng, nhà đầu tư nhận định cổ phiếu MBB sẽ tăng giá trong tương lai, họ quyết định đầu tư vào cổ phiếu này
– Nếu lựa chọn mua cổ phiếu thông thường: với 100 triệu đồng mua được 4,000 cổ phiếu MBB với giá 25,000 đồng
– Nếu lựa chọn mua chứng quyền có đảm bảo: với 100 triệu đồng mua được 50,000 chứng quyền có đảm bảo với giá chứng quyền là 2,000 đồng; tỷ lệ thực hiện 1:1; giá thực hiện là 25,000 đồng
Khi giá cổ phiểu MBB tăng đúng theo nhận định của nhà đầu tư lên đến 30,000 đồng/1 cổ phiếu thì lời nhuận thu được theo các cách đầu tư như sau:
– Đầu tư cổ phiếu thông thường = (30,000 – 25,000) * 4,000 = 20,000,000 đồng
– Đầu tư chứng quyền có đảm bảo = (30,000 – 25,000 – 2,000) * 50,000
= 150,000,000 đồng
Theo như ví dụ ở trên đã thấy rõ việc đầu tư bằng chứng quyền có đảm bảo đem lại tỷ suất lợi nhuận cao gấp nhiều lần so với việc đầu tư vào cổ phiếu thông thường. Đây chính là tính đòn bẩy của công cụ tài chính chứng quyền có đảm bảo này.
• Cố định khoản lỗ tối đa: Tác động của đòn bẩy đem lại tỷ suất lợi nhuận cao như thế thì chắc chắn nó cũng sẽ đem lại rủi ro không nhỏ cho nhà đầu tư.
Nhưng điều đặc biệt của chứng quyền có đảm bảo là nhà đầu tư được bảo đảm khoản lỗ của mình tối đa mặc cho giá cổ phiếu mà nhà đầu tư kỳ vọng có tụt dốc không phanh đi chăng nữa. Khoản lỗ cố định tối đa đó chính là khoản phí chứng quyền mà nhà đầu tư bỏ ra ban đầu.
• Vốn đầu tư thấp: Giá chứng quyền thông thường khá thấp, chỉ giao động ở mức từ 7-12% giá cổ phiếu. Do đó mà phần vốn mà nhà đầu tư bỏ ra để giao dịch sẽ khá nhỏ, chính vì thế mà hạn chế phần nào rủi ro cho nhà đầu tư.
• Không phải ký quỹ khi tham gia giao dịch: Cũng như giao dịch cổ phiếu thông thường, nhà đầu tư không phải ký quỹ bất kỳ khoản tiền nào để có thể thực hiện giao dịch. Đó là điểm công của chứng quyền có đảm bảo so với loại hình đầu tư chứng khoán phải sinh hiện nay phải ký quỹ từ 15-18% (tùy vào từng công ty chứng khoán).






































































